Theo nghiên cứu tâm lý tội phạm, không chỉ do các yếu tố xã hội mà yếu tố di truyền và sinh học cũng đóng góp quan trọng trong sự hình thành hành vi phạm tội. Nhiều nghiên cứu sinh học thần kinh đã chỉ ra rằng những bất thường trong cấu trúc não bộ, đặc biệt là vùng kiểm soát hành vi và cảm xúc, có thể làm tăng nguy cơ hành vi bạo lực và chống đối xã hội. Thêm vào đó, các yếu tố di truyền như sự truyền đạt các gen liên quan đến rối loạn hành vi hay tính cách bốc đồng cũng được xem xét là tác nhân ảnh hưởng. Mặc dù những yếu tố sinh học không quyết định hoàn toàn hành vi phạm tội, chúng có thể tạo tiền đề cho các hành vi phạm pháp nếu cá nhân không được hỗ trợ tâm lý đúng cách hoặc sống trong môi trường tiêu cực. Việc nghiên cứu đứng trên góc độ đa ngành giúp tạo ra cái nhìn toàn diện hơn về tâm lý tội phạm, từ đó đề xuất phương pháp phòng ngừa và can thiệp dựa trên sự kết hợp giữa các yếu tố sinh học và xã hội. – Khái niệm: tâm lý học tội phạm là khoa học nghiên cứu những hiện tượng tâm lý nảy sinh trong quá trình hoạt động phạm tội của các tội phạm nhằm phòng ngừa, phát hiện, và đấu tranh chống tội phạm , góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. 2. Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của tâm ... Các nghiên cứu về tâm lý tội phạm chứng minh rằng trải nghiệm thời thơ ấu có tác động rất lớn đến sự phát triển nhân cách và hành vi phạm tội sau này. Trẻ em từng bị bạo hành, bỏ bê hoặc trải qua các tình huống căng thẳng kéo dài dễ phát triển tính cách rối loạn và xu hướng phản kháng xã hội khi trưởng thành. Không chỉ vậy, môi trường giáo dục không đồng đều hay không cung cấp sự hỗ trợ tinh thần cũng làm tăng nguy cơ các em em trở thành đối tượng phạm tội trong tương lai. Tâm lý tội phạm chú trọng tìm hiểu cơ chế ảnh hưởng của các trải nghiệm tiêu cực này đến hệ thống nhận thức và cảm xúc của cá nhân. Từ đó, các chương trình can thiệp tâm lý hướng đến việc hồi phục, tạo điều kiện phát triển nhân cách tích cực và kỹ năng sống cho trẻ em nhằm giảm thiểu nguy cơ phạm tội từ gốc. Tâm lý tội phạm là trạng thái tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ của tội phạm có liên quan đến việc chuẩn bị và thực hiện tội phạm, sự hình thành tâm lý phạm tội, ý đồ phạm tội và những biện pháp, phương thức thực hiện tội phạm.